Họa Vui
Nắng gắt nên người cũng gắt ta
Đêm rằm gió lệch méo trăng ngà
Biển xoã sóng trào la hét nắng
Cát xoãi hụt bờ hết lân la
Dốc gió cạn trăng tình chẳng béo
Khoác mây trùm nắng khỏi lụa là
Tắt chuông tránh nét tâm còn vọng
Thấy đời mờ nhạt nghĩa nôm na
Thuận Nghĩa
NẮNG
Nắng này là nắng của người ta
Chắc chẳng giống như nắng quê nhà
Nắng người, phơi mãi da thêm đẹp
Nắng quê, hở chút cháy làn da
Thừa nắng đâu còn tha thiết nắng
Đêm đêm ra biển ngắm trăng ngà
Tạm lánh trần gian về cõi mộng
Vui cùng ẩm thực với thi ca.
Lê Trường Hưởng
Tím dịu mơ mờ bóng chiều xa
Lòng riêng hiu quạnh nỗi quan hà
Núi tủi làn mây xòa vai nhớ
Cỏ buồn sợi gió úa tình ta
Lòng riêng trầm mặc bầu duyên nợ
Tấc dạ ngậm ngùi cõi châu sa
Tìn nhắn, ơ meo lòng đâu nỡ
Rốt cùng thì cũng ta với ta...
Dzu- HTT
Vừa mới gặp nhau đã phải xa
Mẹ con rời bến lúc chiều tà
Trời xanh giữ lại đường duyên dáng
Mặt biển còn in nét ngọc ngà
Kẻ ở vẫn đang sầu có phải ?
Người đi liệu có nhớ chăng là ?
Ngậm buồn chờ đến ngày xum họp
Năm tháng vui cùng điệu thánh ca
Mỵ Duy Sơn
Đi nghỉ biển
Gần đà chán cảnh nghỉ đi xa
Ngắm biển mênh mông lúc nắng tà
Cát trắng phải ghen da bạch tuyết
Sóng đêm phản tỏ ánh trăng ngà
Mẹ con một cặp thi bơi lội
Áo tắm vài manh khỏi giặt là
Khủng hoảng toàn cầu về tính liệu
Hết mình chơi đặng khải hoàn ca
Sa mạc Sahara. Mịn màng, óng ả những triền cát vàng, cong
cong uốn lượn như thân thể người con gái trong những bức ảnh khỏa thân nghệ
thuật của Thái Phiên, nóng bỏng dưới cái nắng không khoan nhượng của
mặt trời.
Chúng tôi đang ở miền Nam của Tunisie, thuộc Bắc Phi. Sa mạc
Sahara bắt đầu từ đây, nghe thật xa xôi so với Việt Nam, nhưng chỉ cách Paris
gần ba giờ bay cộng thêm hai giờ xe hơi và một giờ trên lưng lạc đà.
Toujen, sáng 06/08/2009
Con đường rải nhựa sơ sài, loang loáng ổ gà dẫn xe đi qua
những bãi đất đá cằn cỗi. Lác đác khoảng vài km cũng có dấu hiệu của cư dân.
Khi là vài lều trại kiểu du mục hoặc vài dãy cửa quét vôi trắng mang kiến
trúc berber, che chắn đơn giản bằng dăm ba ụ đất, khi lại hiện lên cả một tòa
nhà sang trọng, đồ sộ rất đẹp mắt sừng sững giữa bãi đất hoang. Một vài trạm
xăng mà người hướng dẫn gọi là «xăng lậu» rải rác dọc đường. Xe chỉ cách
biên giới Lybie, xứ sở dầu mỏ lớn nhất nhì thế giới vài chục km. Được biết
chính phủ Tunisie thả lỏng việc buôn lậu xăng ở vùng biên giới giữa hai nước,
vừa để tạo điều kiện sống cho dân cư ở vùng đất hoang sơ, thiếu công ăn việc
làm, vừa dùng họ làm chỉ điểm cho những đầu mối buôn lậu vũ khí và ma túy.
Họ chính là chủ của những tòa nhà đẹp đẽ kia.
Douz, chiều 06/08/2009
Khoảng 50.000 dân cư rải rác trên vùng sa mạc là những người
Berber và Nomade sống thích nghi với khí hậu khô hạn khắc nghiệt của thiên
nhiên bằng thu hoạch olive và chà là. Người ta có cảm giác yên tâm hơn khi bắt
gặp những luống cây olive chi chít trái thẳng tắp, kéo dài ngoài tầm mắt. Ốc
đảo Douz là điểm dừng chân của khách du lịch tới thăm cồn cát Grand Erg
oriental với rừng chà là xanh dịu mắt. Đây có lẽ là vùng giàu có nhất của sa
mạc, nơi có chợ mua bán lừa, cừu, lạc đà đặc trưng của Tunisie. Trái chà là là nguồn
thu nhập chính của dân cư các vùng lân cận. Những người bán du mục tới làm việc
ở đây. Mỗi mùa xuân, khi không còn mưa, họ mang đàn cừu của mình đi kiếm cỏ
nơi khác và giăng lều sống giữa sa mạc.
Khi trời quá nóng, họ trở về ốc đảo. Cây chà là có thân và lá giống hệt như cây
cọ hay cây dừa ở nhà mình. Lá chà là thường được kết lại thành nhiều lớp dày dùng làm
rào chắn những cơn bão cát.
Zaâfrane, 07/08/2009 - Lạc đà một bướu
Mấy chục con lạc đà nằm đợi sẵn đầu làng Zaâfrane đểđưa khách vào lòng sa mạc. Người ta quấn cho
mỗi du khách một chiếc khăn che đầu và mặt, trùm thêm một áo choàng dày
nặng, thô ráp.
Tiếng Pháp phân biệt rõ ràng hai từ khác nhau: dromadaire là
loại lạc đà chỉ có một bướu và chameau là lạc đà hai bướu. Tiếng Việt hình như
gọi chung là lạc đà. Người ta nói lạc đà là loài vật thông minh nhất của vùng sa
mạc. Tôi nghĩ chúng không những chỉ thông minhmà còn rất láu lỉnh.
(Ảnh cát Zaâfrane này lấy trên mạng)
Giống lạc đà ở đây chỉ có một bướu. Mỗi người ngồi lên một
con. Con nọ được buộc vào con kia bằng một sợi dây thừng dài. Chỉ một người dẫn
chúng. Ngồi chông chênh trên chiều cao hơn hai mét, trên cái khối lưng cứ nhún
nhẩy, xê dịch theo mỗi bước chân của con vật xa lạ này cũng hơi sờ sợ. Đã vậy,
chú lạc đà của tôi (gọi là chú vì là con đực) không khác gì một gã trai si
tình. Đi được vài thước lại tìm cách vượt áp sát một cô lạc đà khác, chẳng dịu
dàng tí nào mà tương thẳng một bên bụng to tướng vào cạnh bụng cô kia làm cho cái chân
của mình bị kẹp cứng ở giữa, cứ là đau điếng. Tôi phải gồng người lên bám thật
chắc vào cái gờ cài trên bướu cho khỏi ngã.
(Máy hình gặp cát sa mạc tự dưng không động đậy nữa.)
Mặc dù
trời rất gió nhưng cái nóng gần 50° làm tôi có cảm giác đang dần dần bị thiêu
nướng trong lò. Chúng đi rất chậm. Tôi để ý có con chỉ chọn những khoảng cát
bằng để đi. Riêng con của tôi không hiểu vì muốn thể hiện mình hay muốn thử gan
tôi mà cứ nhằm vào những cồn nhấp nhô nhất. Mỗi lần nó bước xuống dốc là cả
người tôi cũng lao theo đến chóng cả mặt.
Chai nước
mang theo đã cạn. Nóng, khát, căng thẳng trên lưng con vật bướng bỉnh mà mình
năn nỉ nó hãy đi cho tử tế suốt dọc đường bằng những từ những tiếng mình biết mà nó
chẳng thèm nghe, tôi thấy khó chịu lắm. Mắt bắt đầu hoa lên, đầu choáng váng. Không cố được nữa, tôi đành thả cả người gục
lên cái bướu, hai tay buông thõng ra ôm lấy bụng nó.
Tức thì nó
khụy hai chân trước xuống, rồi tiếp đến hai chân sau, ngoan ngoãn nằm phủ phục xuống để tôi lăn tòm trên cát trước khi... xỉu.
Mọi người
lo lắng, dồn cho tôi những chai nước dở. Trên chặng
đường tiếp theo, chú lạc đà của tôi vô cùng dễ thương, bước đi cẩn trọng hơn
nhiều. Đôi lúc nó còn gầm gừ như muốn tôi nói chuyện. Trước khi từ biệt, tôi xoa
xoa mặt nó, cái mồm nó nhẹ nhàng cọ cọ vào tóc tôi, nũng nịu như xin lỗikhông bằng.
Matmata,
08/08/2009 - Nhà điển hình kiểu Berber
Điểm đến tiếp
theo là làng cổ Matmata, (Matmata - tên của một bộ lạc Berber), nơi đoàn làm phim Mỹ đã quay bộ phim
« Star Wars» (mình chưa được xem phim này). Làng trải trên một thung đá
cực kỳ mấp mô và khô cằn. Từ khi chính phủ cho xây làng Matmata mới có điều
kiện sống khá hơn, nhiều người bỏ lại nhà ra đi, nơi đây chỉ còn khoảng 150 hộ,
phần lớn là người già hoặc trẻ con. Lớp trẻ đều tìm cách sinh sống ở vùng khác.
Số người ở lại ít ỏi này muốn giữ lại nhà, muốn ở bên cạnh mồ cha mẹ tổ tiên, hoặc
đơn giản là đã quá gắn bó với nơi mình sinh ra và với phong tục tại
đây.
Nhà của họ
được "xây" rất đặc biệt. Đó là những cái hang được đào sâu dưới lòng
đất đá. Nên tưởng tượng ra một bãi đất lồi lõm, mỗi cái hố tròn là một căn hộ.
Mỗi mô đất trồi lên có những miếng đá đánh dấu là những nấm mộ. Ở đây, người
sống ở sâu dưới lòng đất và người chết trong gia đình thì nằm chếch ngay trên
đầu. Đứng từ trên nhìn xuống mỗi cái hố trònđó, người ta thấy phần lớn các nhà đều có một cái sân gạch, một giếng
tròn ở giữa và nhiều cánh cửa bao quanh sân. Sau những cửa đó là nơi để ngủ,
bếp, sâu trong bếp lại có thêm nhiều cửa khác dẫn tới các hang để thức ăn, hang
ẩn náu của gia súc. Nhà kiểu này ra đời cách đây 3000 năm, giúp cho người ta
tránh được nóng. Trong nhà nhiệt độ xấp xỉ 25-30°, dễ chịu rất nhiều so với bên
ngoài. Các vách đấtđược quét vôi trắng
dày, dịu mát và truyền thêm ánh sáng.
Do "sự cố"
tại sa mạc, người ta đề nghị tôi ngủ lại đây. Cả đoàn sẽ đi tiếp tới một làng khác,
cắm lều, hát múa cùng với thổ dân và ngủ ngay ngoài trời. Tôi rất mệt. Trời quá nóng. Món couscous truyền thống của họ mà tôi đặc biệt
yêu thích ở Paris
trở thành một đụn cát vón cục trong đĩa, không tài nào nuốt nổi. Các đồng
nghiệp của tôi, đúng là sức tây, ăn uống ngon lành và lại hăm hở đi tiếp.
Mệ Berber
Người đàn
bà Berber đón tôi là một góa phụ với 6đứa con còn nhỏ. Chồng bà mất bởi tai nạn, một số con chết vì bệnh. Ngoài
đàn cừu, con lạc đà và việc dệt vải, bà nhận mở cửa nhà cho khách du lịch vào
thăm và nghỉ lại khi cần thiết để kiếm thêm. Khó mà đoán tuổi của bà. Có thể do cuộc sống quá khắc khổ
hay tại những đường xăm xanh ngoằn ngoèo khắp mặt làm cho bà già đi trước tuổi. Chỉ
có đôi mắt rất to và thầm lặng nổi bật trên gương mặt.
Bà đưa tôi
một bình gốm đựng nước dài khoảng 50 cm,
ở giữa phình to bằng quả mít, dẫn tôi vào một hang sâu để làm vệ sinh. Người ta đã dặn tôi phải tuyệt đối tiết kiệm nước ở đây và không được để
nhìn thấy mình đổ nước đi lãng phí thì họ sẽ rất ghét mình. Tôi dùng hết hai phần
ba bình, còn chừa lại một ít mang ra trả lấy lòng bà. Sau đó tôi cùng bà dọn
bếp lấy lệ để chờ bà cho phép đi ngủ. (Mình nói "lấy lệ" vì đã mệt phờ). Bà nói
được vài từ tiếng Pháp.
Mãi rồi bà
cũng dẫn tôi vào hang ngủ được sắp đặt rất gọn gàng. Thực ra ở đây họ cũng
không có đồ đạc gì để mà bừa. Những miếng da cừu để lót dưới lưng và những tấm
chăn vải thô, những chiếc gối bé bé...eo ôi, cũng bằng vải thô sần sùi.
Xung quanh
rất yên tĩnh. Lũ trẻ đã đi sang nhà họ hàng quanh đó cả thì phải. Tôi muốn bà
ngủ lại trong hang cùng tôi cho đỡ sợ nhưng chưa tìm được cách diễn đạt thì bà
đi mất.
Khi tôi đã
chập chờn ngủ thì thấy bà vén rèm vải vào. Bà đến sát gần tôi, nhè nhẹ luồn tay
nhấc đầu tôi lên, trải lên gối một miếng vải, có lẽ là một tấm khăn quấn mặt
bằng lụa mịn.Cánh tay bà có mùi hương phấn...lạ quá... Đó là mùi phấn của mẹ tôi
dùng lúc tôi còn rất nhỏ, bây giờ không còn kiếm ra nữa, nó như có cả mùi vôi. Cái
cử chỉ thân thương quá đỗi và mùi phấn quen thuộc giữa miền đất hoang vu này làm
tôi cay mắt.Bà mở to mắt nhìn tôi lạ
lùng, nắn tay chân tôi muốn hỏi có phải đau ở đâu không. Tôi ngồi nhỏm dậy.
Bằng tiếng Pháp xen với cái vốn khoảng 15 từ tiếng A-rập và bằng điệu bộ, tôi
nói với bà là bà gợi cho tôi nhớ đến mẹ tôi. Mẹ tôi ở cách xa nhiều lần so với cái khoảng
cách giữa tôi và bà nên rất hiếm hoi tôi mới được gặp mẹ. Và nhiều khi nhớ, để
được gặp mẹ thường xuyên trong mơ, tôi đi ngủ với một tấm hình cười rất tươi
của mẹ tôi. Tôi không biết bà hiểu bao nhiêu phần những điều tôi đang huyên
thuyên nhưng thấy bà vuốt ve tay tôi như với những đứa con, hay ít ra cũng như
với con lạc đà quý giá của bà. Rồi bà rời tôi, ra lục lọi trong một đùm vải,
mang lại một gói bột và một chút nước. Bà vẽ lên vai tôi cái hình ngoằn ngoèo.
Chống thiên tai trên trời, chống đau đớn trong tim và trong cơ thể. Tôi hiểu
được những gì bà muốn giải thích. Những điều ước của tôi, cho tôi và các con ở Paris trở nên xa xỉ, kệch
cỡm bên ước muốn sinh tồn nhân bản của người phụ nữ Berber này.
Trăng sáng
lắm, ánh xanh dịu tỏa trên sân, xuyên qua miếng vải rèm lọt vào sâu trong hang. Bà ngủ cùng
tôi đêm nay. Ở bên bà, tôi thấy lòng mênh mang cảm giác nhẹ nhõm, bình yên.
Thuở ấy, người ta chỉ có thể leo lên ngọn đồi Butte bằng con đuờng duy nhất mang tên Lepic. Những dãy phố nhỏ thoai thoải dốc là những đường mòn đầy bùn mà chỉ một cơn mưa cũng có thể biến chúng thành dòng sông ngập ngụa. Vài phố hẹp và một trang trại nhỏ cung cấp sữa tạo cho Montmartre bóng dáng của một khu làng. Lọt qua khe giữa các bức tường nứt nẻ là một thứ ánh sáng màu xam xám. Những ngôi nhà bằng gỗ xen kẽ những chiếc lều sơ sài cùng những mảnh vườn tí xíu thấp thoáng chút màu sắc từ một vài bộ quần áo phơ phất trên dây, hay từ một khóm hoa tím hiếm hoi trong cỏ dại. Nhà thờ Sacré-Cœur mới chỉ là một công trường với những giàn giáo dọc ngang chi chít…
Tại Moulin Rouge (Cối xay gió đỏ), nàng Goulue* không còn xoay tròn những lớp váy bằng voan mỏng để lộ đôi chân dài quyến rũ trong điệu nhảy Cancan như thời của danh họa Toulouse-Lautrec* nữa. Bruyant* ẩn lánh về quê với bản quyền của bài hát «Nini peau d’chien». Zborowski đói lả, lang thang trong các galeries hy vọng bán vài bức tranh khỏa thân của Modigliani*... để sống qua ngày…
Suzanne Valadon (1865-1938) khi ấy vừa là thợ giặt, vũ nữ, người chuyên cưỡi ngựa biểu diễn xiếc vừa là người mẫu cho các danh họa Renoir, Puvis de Chavannes, Degas…trước khi cầm cọ. Phố Cortot, từ khung cửa sổ bà vẽ những chùm lilas trong vườn. Chẳng bao lâu, bàn tay bà đã biến những phố cũ tường loang lổ u buồn ôm quanh Montmartre thành những bức tranh màu sắc, sang trọng và sống động. Chân dung và tranh tĩnh vật là đề tài ưa thích của bà.
Cuộc đời Valadon là câu chuyện xúc động kể từ khi là một cô bé vỉa hè yếu đuối đến lúc trở nên nổi tiếng. Năm 1894, bà là người phụ nữ đầu tiên được bầu vào Viện Nghệ thuật Quốc gia.
Maurice Utrillo, Rue des Abesses, vers 1912
Con
trai của bà, Maurice Utrillo (1883-1955), chưa từng được biết cha, sống
cùng bà ngoại từ nhỏ. Chàng bị nhìn nhận như một kẻ bệnh hoạn không gì
cứu vãn, một con ma men hay một người bệnh tâm thần. Để đổi vài ly rượu
xứ Corse, chàng phác họa khung cảnh của Montmartre trên những bức tranh
nhạt màu không có bóng người, rất xa với vẻ đẹp và thẩm mỹ của thời kỳ
«tranh trắng» sau này. Giống như một điềm báo và cũng đồng nghĩa với
cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất, tranh của chàng toát lên nỗi tuyệt
vọng khôn cùng qua cách diễn tả những bức tường cao hụt hẫng bằng thạch
cao, những con phố hoang vắng và một bầu trời rất thấp ảm đạm như gần
sụp đổ đến nơi. Nhà đổ nát, cây trơ cành, những phiến gạch trên thềm hè
vỡ toác...tất cả như những bài thơ buồn, là nỗi cô độc đến tận cùng, hay
một cuộc chạy đua hoang tưởng của một người lữ khách không hành lý giữa
một sa mạc vô hình.
Tranh
Utrillo thiên về phong cảnh, những mái nhà, góc phố...chủ yếu là
Montmartre. Khoảng gần năm 1922 đến 1955, các bức tranh có sự biến
chuyển về màu sắc, có phần sống động hơn.
Maurice Utrillo, café de la Tourelle à Montmartre, 1911
Hai cuộc đời song hành bên nhau của Suzanne Valadon và Maurice Utrillo có thể làm nên một thiên tiểu thuyết đầy lắt léo của các nhà văn Zola hoặc Céline. Bảo tàng Pinacothèque nằm trên quảng trường Madeleine Paris đã trân trọng dành triển lãm chung các tác phẩm của hai tác giả: Mẹ và Con. Ngắm nhìn chúng bên nhau, ta thấy sự tương phản rõ nét. Một bên là niềm khao khát sự sống tràn trề qua màu sắc và hình khối, những bức chân dung, những khuôn mặt…là sự biểu cảm nồng nàn. Và một bên là địa ngục lạnh lẽo của một tâm hồn bị bỏ rơi. Rời khỏi tranh Utrillo để trở lại với Valadon, người xem bỗng thấy màu sắc tranh của người Mẹ trở nên tươi hơn rực rỡ, chói lòa hơn, thấy yêu quý ngưỡng mộ bao nhiêu niềm lạc quan sống ấy. Và rồi ta bỗng đau nghẹn trước sắc màu ảm đạm của Utrillo, hiểu hơn, thương hơn cho một tài năng luôn chìm đắm trong những cơn trầm cảm.
Suzanne Valadon, femme à la contrebasse, 1910
Chú thích:
*La Goulue (1866-1929): tên thật là Louise Weber, vũ nữ nổi tiếng với điệu nhảy Cancan , người mẫu của nhiều họa sĩ danh tiếng cùng thời. *Henri Marie Raymond de Toulouse-Lautrec-Monfa (1864-1901): Danh họa Pháp. *Aristide Bruant (1851-1925) : Nhạc sĩ và nhà văn Pháp *Léopold Zborowski (1889-1932) : nhà thơ người Ba lan và nhà buôn tranh nghệ thuật. * Amedeo Clemente Modigliani (1884-1920) : Họa sĩ và điêu khắc Pháp.
Nico - Phỏng dịch theo bài nói chuyện của Jaeghere.
Ảnh:J.Fabris, commissaire de l’exposition
Maurice
Utrillo, Sacré Cœur de Montmartre et le Château des Brouillards - 1934
Một gia đình đầm ấm, có ánh mắt lấp lánh vui của mẹ, có
tiếng cười sảng khoái của cha luôn là mơ ước của mọi đứa trẻ. Nhưng không phải
ai cũng may mắn có được niềm hạnh phúc ấy.
Những cuộc cãi vã triền miên, cơn say của cha hay tiếng thổn
thức của mẹ, tiếng động mâm động đĩa, tiếng đập cửa đập bàn đều vô tình để lại
những vết cứa rớm máu trong tim trẻ thơ, là những cơn ác mộng đeo đuổi chúng
suốt cả cuộc đời.
Trẻ thơ không biết trách cha trách mẹ, chỉ biết tự trách
mình tại sao đã sinh ra ở trên đời.
Năm 1980, trên đặc san "ĐÈN TRUNG THU" đã đăng một truyện
ngắn của một cậu bé học sinh lớp 6 vừa được giải nhất của hội văn học nghệ
thuật Hà Nam Ninh có tựa đề "Hoa dạ hương". Nhà văn Tô Hoài đã trầm ngâm "Nhẹ
như một bài thơ !."
Bài thơ ấy, trong sáng và nhẹ nhàng biết bao nhiêu, nhưng ẩn
giấu một niềm khao khát vô cùng giản dị của tuổi học trò: Mỗi lần đi học về
trên con đường Hàn Thuyên thoang thoảng mùi hoa sữa, bàng bạc ánh trăng khuya
lại thấp thỏm mong chờ một buổi tối bình yên.
Truyện ngắn "Hoa dạ hương" giống như một giọt sương đọng lại
trong tôi.
Xin giới thiệu "Hoa dạ hương" của tác giả Lưu Minh Phương -
trại sáng tác các nhà văn trẻ, 1980 mà Nico vừa mới sở hữu bản gốc sau cuộc đấu
giá vất vả tại sàn đấu giá Drouot Paris.