Coco Chanel

Nghiên cứu-Sưu tầm — Viết bởi nico @ 17:50
Tập đoàn Chanel, được phát triển trên ba lĩnh vực: thời trang, nước hoa và mỹ phẩm, kim hoàn và đồng hồ. Cả ba tuy hoạt động riêng biệt nhưng luôn được kết hợp hài hòa để có thể đưa ra thị trường một phong cách nhất quán: phong cách của thương hiệu Chanel.

Có biết bao nhiêu tài liệu, phim ảnh xoay quanh Coco Chanel, nhưng cuộc đời của bà vẫn luôn là một huyền thoại còn chứa đựng nhiều bí ẩn. Bà đã từng muốn có cuốn sách viết về đời mình, từng bỏ 6 tháng ra để làm việc với nhà văn để rồi lại thay đổi ý định, từ chối cuốn sách 300 trang khi nó thành hình. Đối với bà, sự thật nằm ở trong những gì người ta chôn giấu nó…nhưng nó chỉ quan trọng đối với chính bản thân bà…

Biệt danh Coco: Gabrielle Bonheur Chanel là tên thật của bà. Mọi người biết đến bà dưới tên Coco Chanel. Từ khi còn rất nhỏ, cha của bà đã thường gọi «Coco bé bỏng của cha…». Trong những năm ở tuổi 24 còn khốn khó, bà mơ ước trở thành ca sĩ. Tại quán cà phê-nhạc, bà chỉ trình diễn hai bài « Ko-ko-Ri-Ko» và « Qui qu’a vu Coco dans Trocadéro?». Cái tên Coco đi theo bà từ đó.

Chanel và hai màu Đen Trắng: Coco Chanel tránh nói về tuổi ấu thơ. Mất mẹ từ năm 12 tuổi, cha bỏ đi biệt tích, cô bé Coco phải sống tại trại mồ côi ở Corrèze. «Trại mồ côi», hay vết thương lòng đau đớn của đứa con bị bỏ rơi, là từ bà giữ sâu kín nơi đáy lòng. Với tính cách độc lập và rắn rỏi, bà cương quyết không mang quá khứ khơi dậy lòng thương hại của người đời. Nhưng nỗi ám ảnh bởi những bức tường đá trắng trong tu viện luôn tối tăm vì thiếu ánh sáng đã theo bà trong suốt cuộc đời thiết kế thời trang, làm nên hai màu đen và trắng tương phản, một trong những biểu tượng truyền thống của thương hiệu Chanel, một phong cách Chanel luôn được gìn giữ tới bây giờ.

Chanel và Parfum N°5: Bà sinh tại Saumur, một ngày mồng 05/08/1883 (sau này, Coco Chanel có khẳng định là ngày 19).. Khi bắt đầu lăng xê nhãn hiệu nước hoa đầu tiên của mình, Ernest Beaux, một nhà chế tạo nước hoa người Nga đã giới thiệu cho Chanel hai séries mẫu được đánh số từ 1 đến 5 và từ 22 đến 24. Bà chọn số 5 (Chanel 5 ra đời năm 1921) và số 22 (Chanel 22 ra đời năm 1922). Khi được hỏi về tên của nước hoa, bà nói: tôi lăng xê chai nước hoa đầu tiên của mình vào ngày mồng năm, tháng thứ năm trong năm, vậy hãy cứ để nó là số 5, con số mang lại may mắn…

Parfum N°5 bất hủ được tinh chế từ 80 hoạt chất khác nhau từ thiên nhiên do chính bà tự tay vẽ mẫu chai.

Tiếp theo đó là Gardénia (1925) Bois des Îles (1926) et Cuir de Russie (1926)… Do chiến tranh và do có thời gian hãng thời trang Chanel đóng cửa nên rất lâu sau những loại nước hoa khác mới có mặt trên thị trường.

Chai Chanel mang số 19 ra đời kỷ niệm ngày sinh nhật lần thứ 87 của bà, 19 août 1970. Các loại nước hoa Chanel khác lần lượt xuất hiện sau đó : Cristalle (1974), Coco (1983) Egoiste (1990), Egoiste Platinium (1993) dành cho đàn ông và năm 1996, loại nước hoa mới cho phụ nữ: Allure được lăng xê. Chai Coco Mademoiselle ra đời năm 2002 và Chance năm 2003.

Coco Mademoiselle, Chanel Chance…có mùi dịu, mát, thoang thoảng và nếu là parfum thì giữ được thơm lâu phù hợp với khí hậu nóng. Khi dùng Chanel N°5 thì các cửa hiệu thường khuyên người mua chỉ nên xịt lên mu bàn tay và thấm nhẹ vào hai bên tai chứ không nên xịt thẳng lên người. Tinh thần của Chanel luôn là sự quyến rũ một cách kín đáo.

Chanel và hoa Camélia: Hoa trà gắn liền với tên tuổi của Chanel: “Trà Hoa Nữ”, cuốn tiểu thuyết của Alexandre Dumas được bà ưa thích gối đầu giường. Bông hoa trà được đưa vào Pháp thế kỷ 18 là một biểu tượng của phong cách Chanel, luôn xuất hiện trong thời trang Chanel, trang điểm và làm nổi bật những bộ trang sức, những chuỗi ngọc, mũ, áo, trên giày hay túi xách, thắt lưng, dù… được sáng tao từ những chất liệu đặc biệt :  bằng len hay satin, da, lông ngỗng, nhựa hay bìa cứng... Những bông hoa trà giả óng ả, rực rỡ mà kín đáo này tràn ngập trong các tiệm Chanel. Hãng chế biến lông chim Lemarié, chuyên lo về những bông trà của Chanel cho ra đời mỗi năm 20.000 bông.

Vải Tweed (dệt kim?) : là loại vải có nguồn gốc từ Anh được đan bằng nhiều sợi len với hai hoặc ba màu sậm kín đáo xen kẽ. Ý tưởng sử dụng loại vải này được thành hình trong chuyến du lịch tại Ecosse cùng công tước Wertheimer, một trong những người tình có ảnh hưởng quan trọng tới sự nghiệp của bà. Bộ tailleur bằng vải tweed đầu tiên ra đời năm 1928 với những đường cắt sổ thẳng, mạnh mẽ, giải phóng người phụ nữ khỏi sự gò bó trở thành hình ảnh quen thuộc của tailleur Chanel sau này, tiện lợi nhưng vẫn sang trọng, cổ điển mà không bị lỗi thời.

Túi xách nổi tiếng mang tên 2.55: ra đời vào tháng 2 năm 1955.

Giày mũi đen: được nghiên cứu kỹ lưỡng với màu da chân làm cho người ta có cảm tưởng đôi chân của người phụ nữ dài hơn và mũi giày màu đen gây chú ý, làm cho bàn chân dường như nhỏ lại.

Mademoiseille Coco: Là người phụ nữ đẹp, thành đạt, trải qua nhiều cuộc tình với những người đàn ông giàu có, các nhà văn, nhà thơ, biên soạn kịch, họa sĩ nổi tiếng cùng thời... Coco Chanel chưa từng nhận lời cầu hôn của người đàn ông nào. Nếu như đồng tiền đối với bà chỉ mang âm thanh duy nhất của sự tự do thì sự ràng buộc của hôn nhân cũng vậy. Arthur Capel, người đàn ông đầu tiên đưa bà đến với xã hội thượng lưu (chết vì tai nạn xe hơi), được Chanel tâm sự là một mối tình sâu sắc duy nhất của bà. Sau đó là tình yêu dành cho nhà thơ Pierre Reverdy được bà coi như là mối tình cuối cùng.

Jean Cocteau, nhà thơ Pháp từng gọi bà là «Thiên nga đen"...

 

Nàng thiên nga đen huyền thoại vĩnh viễn rời bỏ Paris vào một ngày chủ nhật, tháng giêng năm 1971 tại Khách sạn Ritz nơi bà sống phần lớn cuộc đời mình, (vài ngày sau khi chai nước hoa Chanel 19 sinh nhật được lăng xê ra thị trường) để bay về phía hồ Léman, hồ của những con thiên nga trắng, yên nghỉ giữa nghĩa trang Bois-de-Vaux, cách không xa thành phố Lausanne, Thụy sĩ.

Bà là tấm gương của người phụ nữ vượt qua hoàn cảnh, chiến thắng số phận để làm chủ cuộc đời mình.

Người kế thừa xứng đáng Coco Chanel, Karl Lagerfeld nhận chức giám đốc thiết kế thời trang của tập đoàn từ năm 1983. Luôn chú trọng đến việc duy trì và bảo vệ phong cách sang trọng, đằm thắm và độc đáo của Chanel nhưng ông cũng mạnh dạn với những sáng tạo mới phù hợp với thế kỷ, giữ cho Chanel luôn là một trong những thương hiệu hàng đầu trên thị trường thế giới trước mọi cạnh tranh.

Bấm vào đây xem  trình diễn thời trang Chanel Thu – Đông 2009-2010 nhé. Chờ một tí.
Còn đây là: trình diễn thời trang Chanel Xuân- Hạ 2010
Muốn tìm hiểu kỹ hơn về cuộc đời Chanel, bấm ở đây .

Nico - Tổng hợp từ các tư liệu:

- Paris Match – số 1133 - 23.01.1971
- Tài liệu lưu trữ báo Le Figaro
- Chanel Solitaire của tác giả Claude Baillén – NXB Gallimard

Nguồn ảnh : sưu tập cá nhân, lưu trữ Le Figaro + mạng.


NHỮNG BẢN THẢO ĐẦU ĐỜI

Nghiên cứu-Sưu tầm — Viết bởi nico @ 02:41

Có nhiều nhân tài sớm bộc lộ thiên phú, nhưng không ít trong số họ thưở nhỏ chỉ mang lại phiền toái cho cha mẹ giống như Guistave Flaubert hay Jean Moulin, trong lớp chỉ mơ mộng như Saint-Exupéry, Claude Monet, thi tú tài trượt lên trượt xuống như Pasteur... Dẫu có một tuổi thơ êm đềm hay bão gió, họ đều có một điểm chung: lặng lẽ sống với say mê của mình và thể hiện một cách vụng về, ngây ngô, nhưng cũng hết sức dễ thương qua nhật ký hay các bức vẽ nguệch ngoạc ngang dọc, những lá thư cho cha mẹ, các bài tập ở trường...

"Ngay cả khi đã có một tác phẩm vô cùng nổi tiếng, ai mà không có lần tìm về, luyến tiếc bản thảo đơn sơ đầu tay của tuổi thơ thơm ngát hương hoa, sẽ nhanh chóng phai tàn theo năm tháng để không bao giờ tìm thấy nữa. Lẽ nào ta không trở lại tìm ở đó cái tự nhiên hơn cả ngây thơ, một phong cách không thể nào bắt chước được, một cái dịu dàng không thể có nữa của một lời hứa đầu tiên, của một lời thú nhận ?" Marcel Proust.

Sau đây là bút tích của các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ ... lúc nhỏ:

 Bản thảo "Quelle âme divine", của Louis Aragon (1897-1982) sáng tác lúc 7 tuổi.

 

 

Louis Aragon nhà thơ, nhà văn Pháp lớn của thế kỷ hai mươi đã lôi cuốn những người yêu mến ông bằng chính sự thái quá và tính trữ tình trong thơ ông. Theo trường phái Dada cùng André Bréton, ông là một trong những người sáng lập chủ nghĩa siêu thực mà tầm vóc của nó không thể tách rời được với lịch sử văn học nghệ thuật và chính trị của Pháp. Ông gia nhập Đảng cộng sản Pháp như phần đông các trí thức và nghệ sĩ của thời ông. Trên đường thực hiện ý tưởng theo đường lối Xtalin, ông từng bị ý nghĩ tự tử ám ảnh.

Louis Agaron gặp Elsa Triolet, nhà văn Nga, chị gái của vợ Maïakovski. Khi Elsa mất, ông không thể yêu người phụ nữ nào khác mà tuyên bố thiên hướng đồng tính luyến ái của mình.

Hương vị tuyệt vời và hạnh phúc của tình yêu với Elsa trong những bài thơ ông viết cho nàng: Đôi mắt Elsa, Bàn tay Elsa, Elsa anh yêu em, Elsa ngồi trước gương ...đã đưa vẻ đẹp của nàng trường tồn qua thế kỷ. Mỗi bài thơ tình của ông là một đóng góp cho nghệ thuật của lịch sử thơ Pháp.

Bức thư của cô bé Françoise Dolto (1908-1988), sau này là nhà tâm lý, phân tâm học Pháp nổi tiếng, viết khi 7 tuổi thật dễ thương:...Cậu Pierre yêu quý, hôm trước con đi thăm một xưởng sản xuất nhà bị chiếm bởi người Đức, những ngôi nhà rất đẹp, con chọn một nhà cho con và cậu, một nhà cho bốn đứa con của chúng ta. Con sẽ có hai con gái và hai con trai, và nếu cậu muốn, thì mỗi chúng ta sẽ có một con trai và một con gái , cậu ơi, cậu hãy nhanh nhanh xin phép cưới con vì con sắp phải đi Deauville... »

Người yêu (cậu Pierre) chết trong chiến tranh 1914-1918, mới bảy tuổi rưỡi Françoise âm thầm tự cho mình là "góa bụa chiến tranh", vài năm sau đó là sự ra đi của người chị gái lúc bà 11 tuổi đã làm cho mẹ bà bị khủng hoảng thần kinh trầm trọng. Từ đó Françoise mơ ước và quyết tâm trở thành bác sĩ tâm lý học. Bà là người đầu tiên mở hội nghị tại Rome về chủ đề «Trí tuệ và phân tích tâm lý». Bà đặc biệt quan tâm tới tâm lý học trẻ em và có nhiều công trình nghiên cứu phân tâm học giá trị.

 

Jules Verne (1828-1905) lúc 8 tuổi viết sai chính tả thậm tệ nhưng ta có thể phát hiện ra lỗi của ông ngày xưa là ngôn ngữ của SMS hiện nay đang rất phổ biến của giới trẻ. Có một sự tình cờ là lá thư gửi cho người dì của ông đã nhắc đến một khám phá khoa học thời đó  điện báo. Cha  là một luật sư, mẹ ông là con gái một gia đình chủ tàu giàu có. Chắc chắn lúc nhỏ ông đã chăm chú nghe những cuộc nói chuyện của cha và say mê với những sáng tạo. Khi đó, Jules sống ở thành phố cảng Nantes ồn ào, tấp nập, hàng ngày nhìn qua cửa sổ những con tàu lướt qua sông, mơ những chuyến du hành xa xôi và tự tưởng tượng ra mình là thuyền trưởng của tất cả các con tàu trên thế giới.
 
 
Jules Verne là nhà văn tiên phong của văn học khoa học viễn tưởng Pháp, nổi tiếng với tác phẩm "Tám mươi ngày vòng quanh trái đất" (Le tour du monde en 80 jours), "Những cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Hatteras" (Les Aventures du capitaine Hatteras), "Từ trái đất lên mặt trăng" (De la terre à la lune), "Hai vạn dặm dưới biển" (Vingt mille lieues sous les mers)... Các tác phẩm của ông là những tiên đoán hết sức giá trị cho các thành tựu khoa học hiện đại thời nay.

Ba tư tưởng lớn trong sự nghiệp sáng tác vô cùng phong phú của ông: đó là những cuộc du hành về mặt địa lý, tư tưởng, khoa học.

George Sand (1804-1876) trải qua một tuổi thơ đau khổ, in nặng dấu ấn của những trận cãi vã giữa bà và mẹ, ám ảnh bởi những câu chuyện khủng khiếp bất đắc dĩ của người lớn mà bà đã truyền cho quá sớm, cha mất lúc còn nhỏ dại, xa mẹ rồi lại xa bà để vào tu viện. Bức thư viết khi 7 tuổi:

 
« Con thật tiếc khi không thể nói lời chia tay mẹ. Mẹ có hiểu bao đau buồn khi con phải xa mẹ. Tạm biệt mẹ, xin mẹ hãy nghĩ đến con và hãy tin tưởng con sẽ không bao giờ quên mẹ».

Vượt qua mọi thử thách cay nghiệt của cuộc sống, G.Sand trở thành một phụ nữ độc lập, kiên quyết và phóng khoáng. Bà đã lên tiếng chống lại những định kiến xã hội, đấu tranh cho quyền được yêu, được hạnh phúc của người phụ nữ bằng hơn 100 tiểu thuyết, truyện ngắn, hồi ký, kịch, phê bình văn học... . Cuộc tình với nhà văn Jules Sandreau đã định hướng con đường văn học của bà. Hai cuộc tình với Chopin, Alfred de Musset đã ảnh hưởng sâu sắc tới các tác phẩm.

Jean Giono, nhà văn Pháp (1895-1970), con trai của một người thợ giày và một phụ nữ thợ là, viết cho cha mẹ lúc năm tuổi:

Cha mẹ kính yêu,
Con yêu cha mẹ, con kính chúc cha mẹ một năm mới tốt lành. Bàn tay nhỏ của con không thể phác họa được nhiều hơn, nhưng cha mẹ hãy đọc những điều còn chưa viết hết trong tim con và xin hãy trả lời con bằng một cái hôn dịu dàng
.

Có lẽ chính do hoàn cảnh khó khăn từ thuở nhỏ , Jean đã có một cuộc sống nội tâm phong phú từ rất sớm. Khả năng tưởng tượng thế giới theo cách của riêng mình dựa trên nền tảng của cuộc sống thực tế thường ngày. Tác phẩm của Jean Giono vừa pha trộn giữa tính nhân đạo tự nhiên và sự bất bình mạnh mẽ trước xã hội cuối thế kỷ XX. Truyện "Colline" (Đồi) được giải thưởng Mỹ Brentano, và "Regain" (Cỏ hồi sinh) được giải Northcliffe, tiếp đến là giải thưởng văn học Hoàng tử Pierre của Monaco cho các tác phẩm văn học của ông. Ông được bầu vào Hàn lâm viện Goncourt.

Bức họa "Cô bé chân trần" của Pablo Picasso (1881-1973) lúc 14 tuổi:

Năm 1895, gia đình ông chuyển về Barcelone sống, Pablo ghi tên vào Viện hàn lâm Mỹ thuật.

Tuổi thành niên, Pablo đã cho ra đời không mệt mỏi một số lượng khổng lồ các bức vẽ chân dung, ký họa dưới sự dìu dắt của Le Greco, Vélasquez, Ribera và Goya. Ảnh hưởng của những người thầy vĩ đại được thể hiện qua tác phẩm « Cô bé chân trần», thấp thoáng một phong cách và chủ đề quen thuộc của một Picasso sau này, thể hiện người hình ảnh người phụ nữ bần cùng.

Những bản thảo đầu tay cũ kỹ, vàng ố, đôi khi tơi tả, nét mực nhạt nhòa, bốc mùi mốc ẩm, luôn để lại trong tôi nhiều cảm xúc bâng khuâng. Nhiều lúc thẫn thờ trước bàn phím, tôi tự hỏi các nhà văn thời nay còn viết bản thảo bằng tay nữa hay cũng ngồi gõ lạch cạch như mình viết blog vậy. Con cháu đời sau liệu có còn cái hạnh phúc "dở hơi" như tôi khi được mân mê hay hà hít những trang viết thơm thơm mùi thời gian nữa hay không?

*Bài và ảnh: theo tư liệu lưu trữ Thư viện Quốc Gia Pháp.

 


NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ của VICTOR HUGO dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu tiền cổ

Nghiên cứu-Sưu tầm — Viết bởi nico @ 02:59

Những thông tin về đồng tiền trong một số đoạn của tác phẩm đã cho phép các nhà nghiên cứu có một cái nhìn bao quát về tình hình tài chính của nửa đầu thế kỷ XIX. 

Trên phương diện tiền tệ, trong tác phẩm xuất hiện hầu hết toàn bộ các đồng tiền của thời đại:  từ đồng một centime Dupré đến đồng vàng 20 francs đều được đưa vào trong những hoàn cảnh cụ thể, cực kỳ chính xác là một phát hiện hết sức thú vị cho những người nghiên cứu.   

Những người khốn khổ cho ta thấy tuy con người luôn phải thích ứng với sự phát triển của tiền tệ nhưng thói quen của quá khứ làm cho quá trình thích ứng trở nên chậm trễ. Cách gọi tên của các đồng tiền không còn được sử dụng sau cách mạng Pháp để chỉ những đồng tiền mới trong tác phẩm phản ảnh sự khó khăn này.

"Le sou": đồng tiền xu là một từ luôn được nhắc đi nhắc lại trong tác phẩm. Đây là từ duy nhất đồng nghĩa với sự khốn cùng. Khi nhìn thấy Jean Valjean, mụ Thénardier lăng mạ : "Thằng cha nào đây mà một xu húp cháo cũng không?". "Một bà đã dạy cho Fantine cách sống trong cảnh khốn khó:  "ta không thể thấy hết những gì mà mấy kẻ cùng kiệt biết rút ra từ một đồng xu." Những người nghèo không có một đồng xu. Đồng xu là vật bố thí tối thiểu nhất, là phương thuốc để cứu một cái chết trước mắt: Jean Valjean chào Jarvert đóng giả ăn mày và đưa cho hắn một xu.

Trên thực tế, đa số đồng "xu" được nhắc đến đã không còn được sử dụng thời đó. Hệ thống "tiền lẻ" xuất hiện sau cách mạng Pháp đã thay thế xu bằng  đồng  năm centimes, nặng 10 gam, được phát hành 140 triệu bản từ năm 1796 đến năm 1801. Cho tới đồng năm centimes của Napoléon III năm 1852, không có một đồng tiền xu nào khác. Đồng xu mà Victor Hugo nói tới ở đây là đồng năm centimes, được lưu hành tới năm 1956, ngày nay chúng ta chỉ tìm thấy được những đồng trong hiện trạng dập nát.

Cũng vậy, đồng hai mươi xu trong tác phẩm là đồng một franc. Khi mụ Thénardier thấy Cosette bị mất một đồng mười lăm xu, Jean Valjean tìm ra nó dưới gầm bàn và chìa đồng tiền bạc cho Thénardier, mụ nói  không phải nó vì đây là một đồng hai mươi xu.

Đồng tiền của cậu bé xứ Savoie mà Jean Valjean đã dẫm giày lên được gọi là đồng bốn mươi xu. Theo các nhà nghiên cứu, không hề có đồng tiền nào là bốn mươi xu lúc đó mà là một đồng hai francs bằng bạc. Đồng một trăm xu được nhắc tới là một đồng năm francs. Lão Thénardier nói với vợ:  Chả lẽ cô sẽ tiêu hết một trăm xu?

Đồng bốn mươi xu chính là đồng hai francs.

"Xu" được hiểu là đơn vị chi tiêu thông dụng nhất trong đời sống hàng ngày của những người khốn khổ: từ đồng một xu (năm centimes) đến đồng một trăm xu (năm francs). Giá trị hơn đồng xu là đồng tiền livre và đồng tiền franc.

Giá trị của đồng tiền và các vật dụng trong những năm 1820-1832 qua tác phẩm Những người khốn khổ:

Dưới thời Charles X và Louis Philippe, người ta có thể mua được gì với đồng năm centimes, một franc, hai francs, năm francs, hai mươi francs...?

Chàng Marius, dịch sách để kiếm sống:   Với sự cần mẫn, nghị lực, kiên trì, và ý chí sắt đá, chàng có thể kiếm khoảng bảy trăm francs một năm từ công việc của mình. Chàng sống không đến nỗi nào. Chàng ở trong một phòng lụp xụp  với giá ba mươi francs một năm. Chàng chi trả ba francs mỗi tháng cho người ở trọ chính để bà đến quét dọn và sáng sáng mang đến cho chàng một chút nước nóng, một quả trứng tươi và một ổ bánh mì một xu dùng làm bữa ăn trưa của chàng. Bữa trưa của chàng tốn khoảng từ hai đến bốn xu tùy theo giá đắt rẻ của trứng mỗi ngày. Vào 6 giờ chiều chàng đi ăn tại tiệm Rousseau, đường St-Jacques, một đĩa thịt sáu xu, nửa đĩa rau ba xu và một món tráng miệng ba xu. Thêm ba xu nữa thì được ăn bánh mì tùy thích. Một xu cho cậu bồi. Người đàn bà đứng két cười với chàng. Với mười sáu xu, chàng được một nụ cười và một bữa ăn tối. Việc ăn uống chiếm khoảng hai mươi xu một ngày, là ba trăm sáu lăm francs một năm. Với bốn trăm năm mươi francs, Marius được ăn, ở, phục dịch. Quần áo của chàng mất khoảng một trăm francs, khăn ga giường năm mươi francs, giặt giũ hết năm mươi francs nữa. Tất cả không mất quá sáu trăm năm mươi francs. Chàng còn lại năm mươi francs. Chàng là người giàu có!!!

Như vậy là thời đó, người ta có thể sống với 60 francs một tháng, có nghĩa là 2 francs một ngày. Sáu mươi francs ngày ấy có giá trị bằng 530 euros ngày nay.(Lương tối thiểu của người lao động Pháp hiện nay là 1050 euros một tháng).

Đồng tiền bốn mươi xu (2 francs) mà Jean Valjean đã lấy cắp của cậu bé xứ Savoie có thể giúp cho cậu bé sống trong nhiều ngày. Ta thấu hiểu hơn nỗi thất vọng, đau xót của cậu bởi chỉ với hai xu là cậu có thể mua được một mẩu bánh mì.

Một người giúp việc có thể kiếm được từ 30 đến 50 francs tiền công mỗi tháng: Cô muốn thu nhập bao nhiêu một tháng?/Ba mươi francs./Cô tên là gì?/Olympie./Cô sẽ có năm mươi francs một tháng và cô sẽ tên là Nicolettes.

Con búp bê mà Jean Valjean đã tặng cho Cosette, món đồ chơi tuyệt vời này có giá 30 francs, là một món tiền lớn.

Người đàn bà khốn khổ Fantine đã bán mái tóc với giá 10 francs và hai chiếc răng ngọc của mình với giá 20 francs một chiếc!!!

Một vài nghiên cứu nhỏ mang cho ta cảm hứng đọc và đọc lại nhiều lần Victor Hugo. Tác phẩm của ông không chỉ là đối tượng tìm tòi của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử, văn học, xã hội mà còn là đối tượng của các nhà kinh tế, tài chính và tiền cổ.

Tình trạng cũ nát của các đồng tiền đơn vị nhỏ cho ta biết chúng đã được truyền qua vô số những bàn tay cùng khổ.

Khi ngắm những đồng tiền cổ ctrong tay, người sưu tầm có một cái nhìn khác hẳn. Hình ảnh đau khổ của cậu bé xứ Savoie hiện ra khi ta thấy đồng 2 francs, ta cảm nhận niềm vui sướng tột cùng của Gavroche khi được sở hữu đồng 5 francs của thời ấy. Và chỉ với một đồng 5 francs của Louis Philippe, ta biết được một sinh viên có thể tránh được cái lạnh lẽo trong những một tháng rưỡi trời.

Phía sau đồng tiền cũ kỹ, xấu xí kia không những có giá trị lịch sử mà còn ẩn giấu bao điều thầm kín về những mảnh đời, buồn vui nước mắt... Dưới ngòi bút của tác giả, chúng đều có một linh hồn.

 

Tư liệu tham khảo:

- Le guide marabout des monnaies et médailles.

- Tiểu luận của Yves Bruyère tại Hội nghị tiền cổ Nice


THÚ SƯU TẦM CHAI NƯỚC HOA MẪU CỦA NGƯỜI PHÁP

Nghiên cứu-Sưu tầm — Viết bởi nico @ 20:18
Người Pháp đa phần hết sức say mê sưu tầm và có ý thức sưu tầm từ rất sớm.

Lúc nhỏ, các em bé trai thích sưu tầm những viên bi bằng thủy tinh,  vũ khí, ô tô , BD, ,các em gái sưu tầm con búp bê Barbie, những cuốn sách Martine... Lớn lên một chút thì các chàng trai quan tâm tới những cái huy hiệu nhỏ xinh, hộp thuốc lá, bao diêm, nắp chai rượu champagne, các cô gái bắt đầu dán trong phòng vô số những affiche của các thần tưọng ca sĩ, diễn viên, bày biện những lọ nước hoa tí xíu...Theo thời gian, họ vui thích với thú chơi tem, tiền cổ, tất cả những gì có liên qua tới « J'ai lu », nhãn hiệu nổi tiếng về biscuit và các cụ bà thì thích chơi bát đĩa sứ quý, hộp đựng trang sức sứ có vẽ hoa, dát vàng, có người sưu tầm  bình sữa trẻ con, và đặc biệt hơn là trang trí khắp nhà đủ các loại bô của trẻ em các thời, các nước...

Một trong những kiểu chơi mới của người Pháp đang dần phổ biến   sưu tập chai nước hoa mẫu khổng lồ.

Những lọ nước hoa của các hãng nước hoa nổi tiếng thường chỉ chứa nhiều nhất là 200 ml, cao 15 cm.  Nhưng những chai mẫu này thường là 1000 ml, và có chiều cao đôi lúc tới một mét.

cartier
Chai mẫu Cartier Délice bằng pha lê, nặng 5.20 kg, 1000 ml, bên cạnh chai nước hoa thật loại lớn nhất 100 ml. 

Thường ở trong chai mẫu không có nước hoa mà chỉ là nước màu, được sản xuất tại một hãng chuyên sản xuất chai mẫu: FACTICE DUMMY.

Trước đây, những chai mẫu này chỉ được trưng bày để quảng cáo mỗi khi các hãng sản xuất nước hoa lớn bắt đầu lăng xê một sản phẩm mới của mình. Sau khi đã qua mùa trưng bày, chai mẫu  không còn chỗ trong tủ kính của các gian hàng nữa thì được dọn đi và những người thu dọn hoặc các nhân viên mang về trang trí trong nhà tắm của mình, hoặc cho vào kho cất giữ không thời hạn. Một vài năm gần đây, chai mẫu bỗng trở nên có  giá và ngày càng thu hút đông đảo người sưu tầm, các nhà trang trí nhà nội thất  và do chai mẫu không  được bán trong các cửa hàng nên càng ngày trở nên  quý hiếm. Việc sản xuất chai mẫu nhằm mục đích quảng cáo khá tốn kém nên các hãng sản xuất nước hoa bắt đầu hạn chế. Chỉ có những hãng nước hoa rất nổi tiếng như Guerlain, Chanel, Cartier, Nina Ricci... mới duy trì việc sản xuất chai mẫu. Những người được mời  thiết kế chai mẫu là những nhà thiết kế có tiếng tăm trên thế giới: hình dáng chai phải có ý nghĩa, phải phản ánh nét đặc sắc của hãng nước hoa hoặc phải phù hợp với tên của mỗi loại nước hoa, pha lê phải có chất lượng, độ nặng phải cân bằng để chai có thể đứng được...  Riêng việc tranh chấp bản quyền của tên và hình dáng của các chai nước hoa  cũng gặp khá nhiều sóng gió. Hãng Yves Saint Laurent bắt buộc phải đổi tên cho chai nước hoa Champagne ra đời năm  1993 của mình thành Yvress sau khi đã bị hãng rượu Champagne kiện vì đã sử dụng  tên và thiết kế của nắp chai rượu cho chai nước hoa của họ. Công ty Cardiet Design cũng đã từng kiện nhà thiết kế mẫu chai Ínsolence Serge Mansau của hãng Guerlain  có hình dáng giống với chai nước hoa của họ được thiết kế bởi Hilary Swank mà không kết quả.  Trong thời gian chờ xử kiện thì giá của các chai mẫu trong các phòng đấu giá và các chợ đen tăng lên vùn vụt vì có thể là các chai này sẽ không bao giờ xuất hiện lại nữa.

pomme nina
 
Chai mẫu Nina của Nina Ricci, nặng tương đương với Délice bên cạnh chai thật 100 ML
 
Nói về giá của các chai mẫu thật vô cùng.  Chai càng hiếm thì  giá càng cao, cũng giống như một đồng tiền chất lượng tuyệt hảo 2 Francs Chambre de Commerce năm 1927 có giá trị từ 600 đến 1000 euros, trong khi cũng đồng tiền này của năm 1926 thì chỉ có giá 3 euros.  Khác với tiền cổ LA MÃ, đồng tiền càng cũ, càng ánh lên màu xanh rêu cũ kỹ của thời gian thì càng giá trị, chai mẫu đạt tiêu chuẩn phải giữ được vẻ trong suốt của pha lê, không bị nứt hoặc  trầy xước, các chữ phải còn nguyên trọn vẹn, và nếu như chai mẫu đã được  niêm phong thì nước màu phải còn đầy trong chai như chai CHANEL 5 chẳng hạn. Các chai mẫu có thể mở được nắp chai thì tiêu chuẩn này không cần thiết vì người chơi có thể tự pha chế nước màu được. Chai mẫu đứng ở vị trí đầu mà tất cả những nhà sưu tầm đều mơ  ước là Lalique với L'Air du Temps - Nina Ricci có nắp chai là hình hai con chim đang bay bằng pha lê với giá  từ 1500 dến 3000 euros, có chiều cao là 45 cm.  Trước đây Shalimar của Guerlain với chiều cao 50 cm, nổi tiếng với nắp chai bằng pha lê có màu xanh đậm hình cánh quạt cũng có giá trị tương đương. Nhưng từ khi một hãng sản xuất chai mẫu giả của Ý  (giả của giả), tung ra thị trường 150 chai thì giá của nó bị sụt xuống thảm hại. Chỉ cho tới khi những nguời sưu tầm phát hiện ra chân của chai mẫu thật có hình ôvan và chai mẫu giả có hình tròn thì giá của Shalimar đang được phục hồi.  
 

 
Hypnose - Lancome:Dáng vẻ hiện đại, Hypnose tái hiện lại kiểu dáng chai Magie năm 1950 được thiết kế bởi Georges Delhomme, lấy cảm hứng từ những nếp gấp của chiếc áo Kimono Nhật bản, chai và nắp đều bằng pha lê, nặng 5 kg, cao 50 cm.

Người ta có thể tìm mua chai mẫu tại sàn đấu giá  nổi tiếng của Paris - Drouot hoặc tại các hội chợ chai mẫu được tổ chức giũa các nhà sưu tầm. Hội chợ thường được tổ chức tại Mulhouse, Strasbourg một năm một lần.  Khách đến hội chợ thường là những người đồng tính luyến ái, những người sưu tầm có tên tuổi, những nhà buôn đồng hồ, buôn xe hơi ở cách nước lân cận...Họ đều  muốn tìm tặng cho người thân của mình một chai mẫu khổng lồ nhân một dịp đặc biệt nào đó. Thường là họ quen biết nhau, không những họ mua, mà còn trao đổi: họ say sưa phân tích dáng kiếu , màu sắc của chai, kể cho ta nghe về lịch sử của chai, truyền cho ta cách bảo vệ, lau chùi chai, vị trí đặt chai để bắt ánh sáng mặt trăng tăng thêm vẻ lung linh huyền ảo của chúng,  tiếp ánh sáng mặt trời để chai được phản chiếu rực rỡ.

Câu hỏi ngớ ngẩn nhất đối với những người bán chai mẫu, người sưu tầm chai nước hoa mẫu : ở trong đó là nước hoa thật không? Thường thường, khi nghe câu hỏi này, họ không muốn nói chuyện với ta nữa.

 
Jaipur Saphir của hãng Boucheron, cao 30 cm, nặng 5,30 kg
 

 
Chai mẫu Chanel Coco Mademoiselle 1000 ML, cao 40 cm, nặng 4 kg.
Bên cạnh là chai mẫu nhỏ 400 ML
Bài và ảnh: Thanh Trà 

Powered by vnWeblogs